Sách bán chạy

  1. 1
    Khóm Hoa Tử Đinh Hương
    Giá: 122.000 ₫
    Trích đoạn
    Nicolai Evgrafuvitr Almazov sốt ruột đợi vợ mở cửa; và không cởi áo bành tô, vẫn đội mũ, anh đi thẳng vào phòng làm việc của mình. Vợ anh, chỉ vừa mới nhìn thấy vẻ mặt cau có với cặp lông mày nhíu lại gần nhau và vành môi dưới cắn chặt một cách giận dữ của chồng, lập tức hiểu rằng đã xảy ra một chuyện gì đó rất rủi ro... Nàng im lặng đi theo chồng. Vào đến phòng, Almazov đứng yên chừng một phút, mắt nhìn trân trân vào một điểm nào đó ở trong góc. Rồi anh buông tay, thả chiếc cặp rơi xuống sàn mở tung ra, buông mình ngồi phịch lên chiếc ghế, giận dữ đan những ngón tay vào nhau bẻ kêu răng rắc…
    Almazov là sĩ quan trẻ nhà nghèo, đang theo học ở Học viện Bộ Tổng tham mưu, và bây giờ mới từ trường về. Hôm nay anh phải đem trình giáo sư bài tập thực hành cuối cùng nhưng đồng thời cũng là khó nhất - một bản vẽ địa hình khu vực.
    Cho đến tận bây giờ các môn thi đều trôi qua trót lọt, và chỉ có Chúa trời với vợ của Almazov mới biết được điều đó đòi hỏi những công sức khốn khổ như thế nào... Bắt đầu từ việc ngay cả kỳ thi tuyển vào Học viện cũng tưởng như không thể nào vượt qua nổi. Hai năm liền Almazov đường hoàng trượt vỏ chuối, và chỉ đến năm thứ ba bằng lao động kiên trì, anh mới vượt được các trở ngại trên đường đi. Nếu không có vợ, chắc anh không đủ can đảm, nhiệt tình và đã khoát tay bỏ mặc tất cả. Những Verotrca không cho phép chồng giảm sút tinh thần và luôn tìm cách làm cho anh được sảng khoái, tin tưởng... nàng đã học cách đón nhận những thất bại mới của chồng bằng bộ mặt trong sáng, gần như vui vẻ. Nàng từ chối bản thân tất cả mọi nhu cầu cần thiết để dành cho chồng những tiện nghi, mặc dù khiêm tốn nhưng rất quan trọng với một người lao động trí óc. Nàng còn tuỳ theo sự cần thiết, là người chép lại, người vẽ kỹ thuật, người đọc hộ, người kiểm tra và đồng thời là cuốn sổ ghi chép, tra cứu của anh.Trích đoạn
    Nicolai Evgrafuvitr Almazov sốt ruột đợi vợ mở cửa; và không cởi áo bành tô, vẫn đội mũ, anh đi thẳng vào phòng làm việc của mình. Vợ anh, chỉ vừa mới nhìn thấy vẻ mặt cau có với cặp lông mày nhíu lại gần nhau và vành môi dưới cắn chặt một cách giận dữ của chồng, lập tức hiểu rằng đã xảy ra một chuyện gì đó rất rủi ro... Nàng im lặng đi theo chồng. Vào đến phòng, Almazov đứng yên chừng một phút, mắt nhìn trân trân vào một điểm nào đó ở trong góc. Rồi anh buông tay, thả chiếc cặp rơi xuống sàn mở tung ra, buông mình ngồi phịch lên chiếc ghế, giận dữ đan những ngón tay vào nhau bẻ kêu răng rắc…
    Almazov là sĩ quan trẻ nhà nghèo, đang theo học ở Học viện Bộ Tổng tham mưu, và bây giờ mới từ trường về. Hôm nay anh phải đem trình giáo sư bài tập thực hành cuối cùng nhưng đồng thời cũng là khó nhất - một bản vẽ địa hình khu vực.
    Cho đến tận bây giờ các môn thi đều trôi qua trót lọt, và chỉ có Chúa trời với vợ của Almazov mới biết được điều đó đòi hỏi những công sức khốn khổ như thế nào... Bắt đầu từ việc ngay cả kỳ thi tuyển vào Học viện cũng tưởng như không thể nào vượt qua nổi. Hai năm liền Almazov đường hoàng trượt vỏ chuối, và chỉ đến năm thứ ba bằng lao động kiên trì, anh mới vượt được các trở ngại trên đường đi. Nếu không có vợ, chắc anh không đủ can đảm, nhiệt tình và đã khoát tay bỏ mặc tất cả. Những Verotrca không cho phép chồng giảm sút tinh thần và luôn tìm cách làm cho anh được sảng khoái, tin tưởng... nàng đã học cách đón nhận những thất bại mới của chồng bằng bộ mặt trong sáng, gần như vui vẻ. Nàng từ chối bản thân tất cả mọi nhu cầu cần thiết để dành cho chồng những tiện nghi, mặc dù khiêm tốn nhưng rất quan trọng với một người lao động trí óc. Nàng còn tuỳ theo sự cần thiết, là người chép lại, người vẽ kỹ thuật, người đọc hộ, người kiểm tra và đồng thời là cuốn sổ ghi chép, tra cứu của anh.Trích đoạn
    Nicolai Evgrafuvitr Almazov sốt ruột đợi vợ mở cửa; và không cởi áo bành tô, vẫn đội mũ, anh đi thẳng vào phòng làm việc của mình. Vợ anh, chỉ vừa mới nhìn thấy vẻ mặt cau có với cặp lông mày nhíu lại gần nhau và vành môi dưới cắn chặt một cách giận dữ của chồng, lập tức hiểu rằng đã xảy ra một chuyện gì đó rất rủi ro... Nàng im lặng đi theo chồng. Vào đến phòng, Almazov đứng yên chừng một phút, mắt nhìn trân trân vào một điểm nào đó ở trong góc. Rồi anh buông tay, thả chiếc cặp rơi xuống sàn mở tung ra, buông mình ngồi phịch lên chiếc ghế, giận dữ đan những ngón tay vào nhau bẻ kêu răng rắc…
    Almazov là sĩ quan trẻ nhà nghèo, đang theo học ở Học viện Bộ Tổng tham mưu, và bây giờ mới từ trường về. Hôm nay anh phải đem trình giáo sư bài tập thực hành cuối cùng nhưng đồng thời cũng là khó nhất - một bản vẽ địa hình khu vực.
    Cho đến tận bây giờ các môn thi đều trôi qua trót lọt, và chỉ có Chúa trời với vợ của Almazov mới biết được điều đó đòi hỏi những công sức khốn khổ như thế nào... Bắt đầu từ việc ngay cả kỳ thi tuyển vào Học viện cũng tưởng như không thể nào vượt qua nổi. Hai năm liền Almazov đường hoàng trượt vỏ chuối, và chỉ đến năm thứ ba bằng lao động kiên trì, anh mới vượt được các trở ngại trên đường đi. Nếu không có vợ, chắc anh không đủ can đảm, nhiệt tình và đã khoát tay bỏ mặc tất cả. Những Verotrca không cho phép chồng giảm sút tinh thần và luôn tìm cách làm cho anh được sảng khoái, tin tưởng... nàng đã học cách đón nhận những thất bại mới của chồng bằng bộ mặt trong sáng, gần như vui vẻ. Nàng từ chối bản thân tất cả mọi nhu cầu cần thiết để dành cho chồng những tiện nghi, mặc dù khiêm tốn nhưng rất quan trọng với một người lao động trí óc. Nàng còn tuỳ theo sự cần thiết, là người chép lại, người vẽ kỹ thuật, người đọc hộ, người kiểm tra và đồng thời là cuốn sổ ghi chép, tra cứu của anh.Trích đoạn
    Nicolai Evgrafuvitr Almazov sốt ruột đợi vợ mở cửa; và không cởi áo bành tô, vẫn đội mũ, anh đi thẳng vào phòng làm việc của mình. Vợ anh, chỉ vừa mới nhìn thấy vẻ mặt cau có với cặp lông mày nhíu lại gần nhau và vành môi dưới cắn chặt một cách giận dữ của chồng, lập tức hiểu rằng đã xảy ra một chuyện gì đó rất rủi ro... Nàng im lặng đi theo chồng. Vào đến phòng, Almazov đứng yên chừng một phút, mắt nhìn trân trân vào một điểm nào đó ở trong góc. Rồi anh buông tay, thả chiếc cặp rơi xuống sàn mở tung ra, buông mình ngồi phịch lên chiếc ghế, giận dữ đan những ngón tay vào nhau bẻ kêu răng rắc…
    Almazov là sĩ quan trẻ nhà nghèo, đang theo học ở Học viện Bộ Tổng tham mưu, và bây giờ mới từ trường về. Hôm nay anh phải đem trình giáo sư bài tập thực hành cuối cùng nhưng đồng thời cũng là khó nhất - một bản vẽ địa hình khu vực.
    Cho đến tận bây giờ các môn thi đều trôi qua trót lọt, và chỉ có Chúa trời với vợ của Almazov mới biết được điều đó đòi hỏi những công sức khốn khổ như thế nào... Bắt đầu từ việc ngay cả kỳ thi tuyển vào Học viện cũng tưởng như không thể nào vượt qua nổi. Hai năm liền Almazov đường hoàng trượt vỏ chuối, và chỉ đến năm thứ ba bằng lao động kiên trì, anh mới vượt được các trở ngại trên đường đi. Nếu không có vợ, chắc anh không đủ can đảm, nhiệt tình và đã khoát tay bỏ mặc tất cả. Những Verotrca không cho phép chồng giảm sút tinh thần và luôn tìm cách làm cho anh được sảng khoái, tin tưởng... nàng đã học cách đón nhận những thất bại mới của chồng bằng bộ mặt trong sáng, gần như vui vẻ. Nàng từ chối bản thân tất cả mọi nhu cầu cần thiết để dành cho chồng những tiện nghi, mặc dù khiêm tốn nhưng rất quan trọng với một người lao động trí óc. Nàng còn tuỳ theo sự cần thiết, là người chép lại, người vẽ kỹ thuật, người đọc hộ, người kiểm tra và đồng thời là cuốn sổ ghi chép, tra cứu của anh.Trích đoạn
    Nicolai Evgrafuvitr Almazov sốt ruột đợi vợ mở cửa; và không cởi áo bành tô, vẫn đội mũ, anh đi thẳng vào phòng làm việc của mình. Vợ anh, chỉ vừa mới nhìn thấy vẻ mặt cau có với cặp lông mày nhíu lại gần nhau và vành môi dưới cắn chặt một cách giận dữ của chồng, lập tức hiểu rằng đã xảy ra một chuyện gì đó rất rủi ro... Nàng im lặng đi theo chồng. Vào đến phòng, Almazov đứng yên chừng một phút, mắt nhìn trân trân vào một điểm nào đó ở trong góc. Rồi anh buông tay, thả chiếc cặp rơi xuống sàn mở tung ra, buông mình ngồi phịch lên chiếc ghế, giận dữ đan những ngón tay vào nhau bẻ kêu răng rắc…
    Almazov là sĩ quan trẻ nhà nghèo, đang theo học ở Học viện Bộ Tổng tham mưu, và bây giờ mới từ trường về. Hôm nay anh phải đem trình giáo sư bài tập thực hành cuối cùng nhưng đồng thời cũng là khó nhất - một bản vẽ địa hình khu vực.
    Cho đến tận bây giờ các môn thi đều trôi qua trót lọt, và chỉ có Chúa trời với vợ của Almazov mới biết được điều đó đòi hỏi những công sức khốn khổ như thế nào... Bắt đầu từ việc ngay cả kỳ thi tuyển vào Học viện cũng tưởng như không thể nào vượt qua nổi. Hai năm liền Almazov đường hoàng trượt vỏ chuối, và chỉ đến năm thứ ba bằng lao động kiên trì, anh mới vượt được các trở ngại trên đường đi. Nếu không có vợ, chắc anh không đủ can đảm, nhiệt tình và đã khoát tay bỏ mặc tất cả. Những Verotrca không cho phép chồng giảm sút tinh thần và luôn tìm cách làm cho anh được sảng khoái, tin tưởng... nàng đã học cách đón nhận những thất bại mới của chồng bằng bộ mặt trong sáng, gần như vui vẻ. Nàng từ chối bản thân tất cả mọi nhu cầu cần thiết để dành cho chồng những tiện nghi, mặc dù khiêm tốn nhưng rất quan trọng với một người lao động trí óc. Nàng còn tuỳ theo sự cần thiết, là người chép lại, người vẽ kỹ thuật, người đọc hộ, người kiểm tra và đồng thời là cuốn sổ ghi chép, tra cứu của anh.
  2. 2
    Những Ô Cửa Màu Xanh
    Giá: 115.000 ₫
    Những Ô Cửa Màu Xanh là tuyển tập truyện ngắn của 43 tác giả trên thế giới do Đoàn Tử Huyến sưu tầm và biên dịch.
    "Có người ví tác phẩm văn học dịch như ô cửa sổ nhìn ra thế giới bên ngoài... Những truyện ngắn này do tôi dịch rải rác trong nhiều năm, việc lựa chọn hoàn toàn ngẫu nhiên, không theo một tiêu chí thống nhất nào, qua nhiều nguồn sách báo, của các tác giả thuộc các châu lục, quốc gia khác nhau - từ Bắc Âu đến Đông Nam Á, từ Ấn Độ đến Trung - Nam Mĩ... Tôi chọn tên một thiên truyện của nhà văn Nga đặt tựa cho tập sách này - Những Ô Cửa Màu Xanh. Ước mong cho những ô cửa ta nhìn mang màu xanh - yên bình và thân thiện."
    (Trích lời Đoàn Tử Huyến)Những Ô Cửa Màu Xanh là tuyển tập truyện ngắn của 43 tác giả trên thế giới do Đoàn Tử Huyến sưu tầm và biên dịch.
    "Có người ví tác phẩm văn học dịch như ô cửa sổ nhìn ra thế giới bên ngoài... Những truyện ngắn này do tôi dịch rải rác trong nhiều năm, việc lựa chọn hoàn toàn ngẫu nhiên, không theo một tiêu chí thống nhất nào, qua nhiều nguồn sách báo, của các tác giả thuộc các châu lục, quốc gia khác nhau - từ Bắc Âu đến Đông Nam Á, từ Ấn Độ đến Trung - Nam Mĩ... Tôi chọn tên một thiên truyện của nhà văn Nga đặt tựa cho tập sách này - Những Ô Cửa Màu Xanh. Ước mong cho những ô cửa ta nhìn mang màu xanh - yên bình và thân thiện."
    (Trích lời Đoàn Tử Huyến)Những Ô Cửa Màu Xanh là tuyển tập truyện ngắn của 43 tác giả trên thế giới do Đoàn Tử Huyến sưu tầm và biên dịch.
    "Có người ví tác phẩm văn học dịch như ô cửa sổ nhìn ra thế giới bên ngoài... Những truyện ngắn này do tôi dịch rải rác trong nhiều năm, việc lựa chọn hoàn toàn ngẫu nhiên, không theo một tiêu chí thống nhất nào, qua nhiều nguồn sách báo, của các tác giả thuộc các châu lục, quốc gia khác nhau - từ Bắc Âu đến Đông Nam Á, từ Ấn Độ đến Trung - Nam Mĩ... Tôi chọn tên một thiên truyện của nhà văn Nga đặt tựa cho tập sách này - Những Ô Cửa Màu Xanh. Ước mong cho những ô cửa ta nhìn mang màu xanh - yên bình và thân thiện."
    (Trích lời Đoàn Tử Huyến)Những Ô Cửa Màu Xanh là tuyển tập truyện ngắn của 43 tác giả trên thế giới do Đoàn Tử Huyến sưu tầm và biên dịch.
    "Có người ví tác phẩm văn học dịch như ô cửa sổ nhìn ra thế giới bên ngoài... Những truyện ngắn này do tôi dịch rải rác trong nhiều năm, việc lựa chọn hoàn toàn ngẫu nhiên, không theo một tiêu chí thống nhất nào, qua nhiều nguồn sách báo, của các tác giả thuộc các châu lục, quốc gia khác nhau - từ Bắc Âu đến Đông Nam Á, từ Ấn Độ đến Trung - Nam Mĩ... Tôi chọn tên một thiên truyện của nhà văn Nga đặt tựa cho tập sách này - Những Ô Cửa Màu Xanh. Ước mong cho những ô cửa ta nhìn mang màu xanh - yên bình và thân thiện."
    (Trích lời Đoàn Tử Huyến)Những Ô Cửa Màu Xanh là tuyển tập truyện ngắn của 43 tác giả trên thế giới do Đoàn Tử Huyến sưu tầm và biên dịch.
    "Có người ví tác phẩm văn học dịch như ô cửa sổ nhìn ra thế giới bên ngoài... Những truyện ngắn này do tôi dịch rải rác trong nhiều năm, việc lựa chọn hoàn toàn ngẫu nhiên, không theo một tiêu chí thống nhất nào, qua nhiều nguồn sách báo, của các tác giả thuộc các châu lục, quốc gia khác nhau - từ Bắc Âu đến Đông Nam Á, từ Ấn Độ đến Trung - Nam Mĩ... Tôi chọn tên một thiên truyện của nhà văn Nga đặt tựa cho tập sách này - Những Ô Cửa Màu Xanh. Ước mong cho những ô cửa ta nhìn mang màu xanh - yên bình và thân thiện."
    (Trích lời Đoàn Tử Huyến)
  3. 3
    Trái Tim Chó (2016)
    Giá: 45.000 ₫
    Trái tim chó kể về câu chuyện xảy ra khi nhà bác học Preobrajenski qua thí nghiệm kết hợp thể xác chó với tuyến yên não người đã tạo ra một sinh vật biết sử dụng ngôn ngữ người.
    Ông hi vọng cải biến sinh vật đó thành người có trí tuệ. Nhưng vừa có được chỗ đứng trong cộng đồng người, sinh vật đó đã trở thành mối nguy hiểm đe dọa ngay cả người tạo ra nó, và cái sai lầm của thí nghiệm là ở chỗ nhà bác học đã cấy não của một con người cụ thể là Clim Trugunkin - một kẻ vô sản lưu manh chuyên trộm cắp, rượu chè, dối trá. Cho nên Saricov - cái sinh vật đã tiếp thu "ý thức" của Klim - không đại diện cho loài người nói chung, mà ở hắn tập trung những gì xấu xa, thấp hèn của tầng lớp vô sản lưu manh, cái phần bản năng tối tăm trụy lạc trong cuộc sống quần chúng.
    Qua Trái tim chó tác giả cảnh báo về nguy cơ "Saricov", một dạng người có trái tim chó, hay nói đúng hơn là một dạng người mang tâm lí chó vốn không quá hiếm trong cuộc đời xung quanh.Trái tim chó kể về câu chuyện xảy ra khi nhà bác học Preobrajenski qua thí nghiệm kết hợp thể xác chó với tuyến yên não người đã tạo ra một sinh vật biết sử dụng ngôn ngữ người.
    Ông hi vọng cải biến sinh vật đó thành người có trí tuệ. Nhưng vừa có được chỗ đứng trong cộng đồng người, sinh vật đó đã trở thành mối nguy hiểm đe dọa ngay cả người tạo ra nó, và cái sai lầm của thí nghiệm là ở chỗ nhà bác học đã cấy não của một con người cụ thể là Clim Trugunkin - một kẻ vô sản lưu manh chuyên trộm cắp, rượu chè, dối trá. Cho nên Saricov - cái sinh vật đã tiếp thu "ý thức" của Klim - không đại diện cho loài người nói chung, mà ở hắn tập trung những gì xấu xa, thấp hèn của tầng lớp vô sản lưu manh, cái phần bản năng tối tăm trụy lạc trong cuộc sống quần chúng.
    Qua Trái tim chó tác giả cảnh báo về nguy cơ "Saricov", một dạng người có trái tim chó, hay nói đúng hơn là một dạng người mang tâm lí chó vốn không quá hiếm trong cuộc đời xung quanh.Trái tim chó kể về câu chuyện xảy ra khi nhà bác học Preobrajenski qua thí nghiệm kết hợp thể xác chó với tuyến yên não người đã tạo ra một sinh vật biết sử dụng ngôn ngữ người.
    Ông hi vọng cải biến sinh vật đó thành người có trí tuệ. Nhưng vừa có được chỗ đứng trong cộng đồng người, sinh vật đó đã trở thành mối nguy hiểm đe dọa ngay cả người tạo ra nó, và cái sai lầm của thí nghiệm là ở chỗ nhà bác học đã cấy não của một con người cụ thể là Clim Trugunkin - một kẻ vô sản lưu manh chuyên trộm cắp, rượu chè, dối trá. Cho nên Saricov - cái sinh vật đã tiếp thu "ý thức" của Klim - không đại diện cho loài người nói chung, mà ở hắn tập trung những gì xấu xa, thấp hèn của tầng lớp vô sản lưu manh, cái phần bản năng tối tăm trụy lạc trong cuộc sống quần chúng.
    Qua Trái tim chó tác giả cảnh báo về nguy cơ "Saricov", một dạng người có trái tim chó, hay nói đúng hơn là một dạng người mang tâm lí chó vốn không quá hiếm trong cuộc đời xung quanh.Trái tim chó kể về câu chuyện xảy ra khi nhà bác học Preobrajenski qua thí nghiệm kết hợp thể xác chó với tuyến yên não người đã tạo ra một sinh vật biết sử dụng ngôn ngữ người.
    Ông hi vọng cải biến sinh vật đó thành người có trí tuệ. Nhưng vừa có được chỗ đứng trong cộng đồng người, sinh vật đó đã trở thành mối nguy hiểm đe dọa ngay cả người tạo ra nó, và cái sai lầm của thí nghiệm là ở chỗ nhà bác học đã cấy não của một con người cụ thể là Clim Trugunkin - một kẻ vô sản lưu manh chuyên trộm cắp, rượu chè, dối trá. Cho nên Saricov - cái sinh vật đã tiếp thu "ý thức" của Klim - không đại diện cho loài người nói chung, mà ở hắn tập trung những gì xấu xa, thấp hèn của tầng lớp vô sản lưu manh, cái phần bản năng tối tăm trụy lạc trong cuộc sống quần chúng.
    Qua Trái tim chó tác giả cảnh báo về nguy cơ "Saricov", một dạng người có trái tim chó, hay nói đúng hơn là một dạng người mang tâm lí chó vốn không quá hiếm trong cuộc đời xung quanh.Trái tim chó kể về câu chuyện xảy ra khi nhà bác học Preobrajenski qua thí nghiệm kết hợp thể xác chó với tuyến yên não người đã tạo ra một sinh vật biết sử dụng ngôn ngữ người.
    Ông hi vọng cải biến sinh vật đó thành người có trí tuệ. Nhưng vừa có được chỗ đứng trong cộng đồng người, sinh vật đó đã trở thành mối nguy hiểm đe dọa ngay cả người tạo ra nó, và cái sai lầm của thí nghiệm là ở chỗ nhà bác học đã cấy não của một con người cụ thể là Clim Trugunkin - một kẻ vô sản lưu manh chuyên trộm cắp, rượu chè, dối trá. Cho nên Saricov - cái sinh vật đã tiếp thu "ý thức" của Klim - không đại diện cho loài người nói chung, mà ở hắn tập trung những gì xấu xa, thấp hèn của tầng lớp vô sản lưu manh, cái phần bản năng tối tăm trụy lạc trong cuộc sống quần chúng.
    Qua Trái tim chó tác giả cảnh báo về nguy cơ "Saricov", một dạng người có trái tim chó, hay nói đúng hơn là một dạng người mang tâm lí chó vốn không quá hiếm trong cuộc đời xung quanh.
  4. 4
    Nghệ Nhân Và Margarita
    Giá: 150.000 ₫
    "M.Bulgakov - Bản thảo không bị cháy
    Từng chương, từng trang sách, đều ẩn chứa trong đó những hàm ý triết học được "phổ" vào ngay cả những sự kiện xoàng xĩnh, khôi hài đến thảm hại của một hiện thực rã nát trong thế giới văn nhân. Và toàn thể tiểu thuyết là một tuyên ngôn nghệ thuật mà cho đến ngày nay các nhà nghiên cứu vẫn tiếp tục khám phá không ngưng nghỉ.
    Nghệ Nhân là nhà văn vừa hoàn thành tiểu thuyết, viết về hai nhân vật Lesua và Ponti Pilat: Một là nhà triết học lang thang và một là quan tổng trấn quyền uy. Lesua đã bị gài bẫy, bị bắt và bị hành hình vì những rao giảng của mình. Cái chết của Lesua đã trở thành nỗi ám ảnh kéo dài suốt hai nghìn năm, không để cho Ponti Pilat được yên, bởi quan tổng trấn đã không thể "cứu" được Lesua khỏi án chết, như ước muốn bí mật chỉ riêng ông biết.
    Số phận của Nghệ Nhân cũng không hề may mắn hơn: Tác phẩm của anh bị nguyền rủa và khai tử bởi các đồng nghiệp ngay từ lúc chưa công bố, dẫn đến việc anh bế tắc, tuyệt vọng, tự đốt bản thảo và tìm đến nhà thương điên, trốn chạy cả tình yêu định mệnh của Margarita…
    Chỉ có quỷ sứ mới cứu nổi nhà văn. Và quả thật quỷ sứ đã xuất hiện.
    Phần lớn số trang của tiểu thuyết đã dành để mô tả những gì mà chúa quỷ Voland và đoàn tùy tùng đã "quậy tưng" thành phố Moscow lên theo cách nào. Bằng những phép thuật được sử dụng như thuốc thử, Voland đã buộc giới văn nhân tự lộn trái mình ra, bộc lộ những phẩm chất tồi tệ: Bất tài, dối trá, ăn bám và hám lợi.
    Quả thật, Bulgacov với "Tài năng của nhà văn trào phúng, tài năng của nhà văn giả tưởng và tài năng của nhà văn hiện thực" đã nén đến tối đa những vấn nạn văn chương - tư tưởng, nhằm khẳng định khát vọng của nhà văn. Nó ở trong lời đáp của Voland khi Nghệ Nhân lên tiếng hỏi mình có nên chạy theo Ponti Pilat không: "Không, chạy theo dấu vết của cái đã kết thúc để làm gì?…Chẳng lẽ anh không muốn giống như Faust, ngồi bên chiếc bình cổ cong với niềm hy vọng mình sẽ tạo ra được một giống Homuncul mới?".
    Nếu Nghệ Nhân - nhà văn trong tiểu thuyết khá mềm yếu và thụ động thì Bulgacov - nhà văn ngoài đời thực hoàn toàn ngược lại. Mạnh mẽ, quyết liệt, Bulgacov đã gửi một bức thư dài đến chính phủ Liên Xô: "Và tự tay tôi, tôi đã ném vào lò sưởi một tập bản thảo cuốn tiểu thuyết viết về quỷ sứ, một tập bản thảo hài kịch và phần đầu cuốn tiểu thuyết thứ hai của tôi - tiểu thuyết Sân khấu…Tôi xin lưu ý rằng, không được viết đối với tôi cũng có nghĩa là bị chôn sống… Nếu không được làm đạo diễn, tôi xin làm diễn viên đóng vai phụ. Nếu làm diễn viên phụ cũng không được, tôi xin làm công nhân sân khấu. Nếu cả điều đó cũng không thể được, tôi xin chính phủ Xô viết xử trí tôi như chính phủ thấy cần thiết…". Bức thư đã được gửi đi vào trước thời điểm mà Maiakovski đã dùng súng tự bắn vào đầu.
    Sự quyết liệt ấy đã thể hiện rất rõ trong tiểu thuyết, ở những đối thoại giữa giữa Lesua - Pilat. Iesua đã trả lời Pilat, nhắc lại những gì mà vì nó, nhà triết học phải bước lên đoạn đầu đài: "Tôi nói rằng ngôi đền của lòng tin cũ sẽ sụp đổ, và ngôi đền mới của chân lý sẽ được dựng lên… Bất kể thứ quyền lực nào cũng là bạo lực đối với con người, và sẽ đến một lúc sẽ không còn quyền lực của các hoàng đế lẫn bất kỳ thứ quyền lực nào khác. Con người sẽ đến được vương quốc của sự thật và công lý, nơi nói chung sẽ không cần một quyền lực nào cả…".
    Có lẽ sự quyết liệt ấy đã giúp cho "bản thảo không bị cháy", cho dù Nghệ Nhân, cho dù chính Bulgacov đã đốt nó".
    (Ngô Thị Kim Cúc - Đọc Nghệ Nhân và Margarita, tiểu thuyết của Mikhail Bulgakov, bản dịch của Đoàn Tử Huyến, giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 1991, giải thưởng Sách Hay 2011)"M.Bulgakov - Bản thảo không bị cháy
    Từng chương, từng trang sách, đều ẩn chứa trong đó những hàm ý triết học được "phổ" vào ngay cả những sự kiện xoàng xĩnh, khôi hài đến thảm hại của một hiện thực rã nát trong thế giới văn nhân. Và toàn thể tiểu thuyết là một tuyên ngôn nghệ thuật mà cho đến ngày nay các nhà nghiên cứu vẫn tiếp tục khám phá không ngưng nghỉ.
    Nghệ Nhân là nhà văn vừa hoàn thành tiểu thuyết, viết về hai nhân vật Lesua và Ponti Pilat: Một là nhà triết học lang thang và một là quan tổng trấn quyền uy. Lesua đã bị gài bẫy, bị bắt và bị hành hình vì những rao giảng của mình. Cái chết của Lesua đã trở thành nỗi ám ảnh kéo dài suốt hai nghìn năm, không để cho Ponti Pilat được yên, bởi quan tổng trấn đã không thể "cứu" được Lesua khỏi án chết, như ước muốn bí mật chỉ riêng ông biết.
    Số phận của Nghệ Nhân cũng không hề may mắn hơn: Tác phẩm của anh bị nguyền rủa và khai tử bởi các đồng nghiệp ngay từ lúc chưa công bố, dẫn đến việc anh bế tắc, tuyệt vọng, tự đốt bản thảo và tìm đến nhà thương điên, trốn chạy cả tình yêu định mệnh của Margarita…
    Chỉ có quỷ sứ mới cứu nổi nhà văn. Và quả thật quỷ sứ đã xuất hiện.
    Phần lớn số trang của tiểu thuyết đã dành để mô tả những gì mà chúa quỷ Voland và đoàn tùy tùng đã "quậy tưng" thành phố Moscow lên theo cách nào. Bằng những phép thuật được sử dụng như thuốc thử, Voland đã buộc giới văn nhân tự lộn trái mình ra, bộc lộ những phẩm chất tồi tệ: Bất tài, dối trá, ăn bám và hám lợi.
    Quả thật, Bulgacov với "Tài năng của nhà văn trào phúng, tài năng của nhà văn giả tưởng và tài năng của nhà văn hiện thực" đã nén đến tối đa những vấn nạn văn chương - tư tưởng, nhằm khẳng định khát vọng của nhà văn. Nó ở trong lời đáp của Voland khi Nghệ Nhân lên tiếng hỏi mình có nên chạy theo Ponti Pilat không: "Không, chạy theo dấu vết của cái đã kết thúc để làm gì?…Chẳng lẽ anh không muốn giống như Faust, ngồi bên chiếc bình cổ cong với niềm hy vọng mình sẽ tạo ra được một giống Homuncul mới?".
    Nếu Nghệ Nhân - nhà văn trong tiểu thuyết khá mềm yếu và thụ động thì Bulgacov - nhà văn ngoài đời thực hoàn toàn ngược lại. Mạnh mẽ, quyết liệt, Bulgacov đã gửi một bức thư dài đến chính phủ Liên Xô: "Và tự tay tôi, tôi đã ném vào lò sưởi một tập bản thảo cuốn tiểu thuyết viết về quỷ sứ, một tập bản thảo hài kịch và phần đầu cuốn tiểu thuyết thứ hai của tôi - tiểu thuyết Sân khấu…Tôi xin lưu ý rằng, không được viết đối với tôi cũng có nghĩa là bị chôn sống… Nếu không được làm đạo diễn, tôi xin làm diễn viên đóng vai phụ. Nếu làm diễn viên phụ cũng không được, tôi xin làm công nhân sân khấu. Nếu cả điều đó cũng không thể được, tôi xin chính phủ Xô viết xử trí tôi như chính phủ thấy cần thiết…". Bức thư đã được gửi đi vào trước thời điểm mà Maiakovski đã dùng súng tự bắn vào đầu.
    Sự quyết liệt ấy đã thể hiện rất rõ trong tiểu thuyết, ở những đối thoại giữa giữa Lesua - Pilat. Iesua đã trả lời Pilat, nhắc lại những gì mà vì nó, nhà triết học phải bước lên đoạn đầu đài: "Tôi nói rằng ngôi đền của lòng tin cũ sẽ sụp đổ, và ngôi đền mới của chân lý sẽ được dựng lên… Bất kể thứ quyền lực nào cũng là bạo lực đối với con người, và sẽ đến một lúc sẽ không còn quyền lực của các hoàng đế lẫn bất kỳ thứ quyền lực nào khác. Con người sẽ đến được vương quốc của sự thật và công lý, nơi nói chung sẽ không cần một quyền lực nào cả…".
    Có lẽ sự quyết liệt ấy đã giúp cho "bản thảo không bị cháy", cho dù Nghệ Nhân, cho dù chính Bulgacov đã đốt nó".
    (Ngô Thị Kim Cúc - Đọc Nghệ Nhân và Margarita, tiểu thuyết của Mikhail Bulgakov, bản dịch của Đoàn Tử Huyến, giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 1991, giải thưởng Sách Hay 2011)"M.Bulgakov - Bản thảo không bị cháy
    Từng chương, từng trang sách, đều ẩn chứa trong đó những hàm ý triết học được "phổ" vào ngay cả những sự kiện xoàng xĩnh, khôi hài đến thảm hại của một hiện thực rã nát trong thế giới văn nhân. Và toàn thể tiểu thuyết là một tuyên ngôn nghệ thuật mà cho đến ngày nay các nhà nghiên cứu vẫn tiếp tục khám phá không ngưng nghỉ.
    Nghệ Nhân là nhà văn vừa hoàn thành tiểu thuyết, viết về hai nhân vật Lesua và Ponti Pilat: Một là nhà triết học lang thang và một là quan tổng trấn quyền uy. Lesua đã bị gài bẫy, bị bắt và bị hành hình vì những rao giảng của mình. Cái chết của Lesua đã trở thành nỗi ám ảnh kéo dài suốt hai nghìn năm, không để cho Ponti Pilat được yên, bởi quan tổng trấn đã không thể "cứu" được Lesua khỏi án chết, như ước muốn bí mật chỉ riêng ông biết.
    Số phận của Nghệ Nhân cũng không hề may mắn hơn: Tác phẩm của anh bị nguyền rủa và khai tử bởi các đồng nghiệp ngay từ lúc chưa công bố, dẫn đến việc anh bế tắc, tuyệt vọng, tự đốt bản thảo và tìm đến nhà thương điên, trốn chạy cả tình yêu định mệnh của Margarita…
    Chỉ có quỷ sứ mới cứu nổi nhà văn. Và quả thật quỷ sứ đã xuất hiện.
    Phần lớn số trang của tiểu thuyết đã dành để mô tả những gì mà chúa quỷ Voland và đoàn tùy tùng đã "quậy tưng" thành phố Moscow lên theo cách nào. Bằng những phép thuật được sử dụng như thuốc thử, Voland đã buộc giới văn nhân tự lộn trái mình ra, bộc lộ những phẩm chất tồi tệ: Bất tài, dối trá, ăn bám và hám lợi.
    Quả thật, Bulgacov với "Tài năng của nhà văn trào phúng, tài năng của nhà văn giả tưởng và tài năng của nhà văn hiện thực" đã nén đến tối đa những vấn nạn văn chương - tư tưởng, nhằm khẳng định khát vọng của nhà văn. Nó ở trong lời đáp của Voland khi Nghệ Nhân lên tiếng hỏi mình có nên chạy theo Ponti Pilat không: "Không, chạy theo dấu vết của cái đã kết thúc để làm gì?…Chẳng lẽ anh không muốn giống như Faust, ngồi bên chiếc bình cổ cong với niềm hy vọng mình sẽ tạo ra được một giống Homuncul mới?".
    Nếu Nghệ Nhân - nhà văn trong tiểu thuyết khá mềm yếu và thụ động thì Bulgacov - nhà văn ngoài đời thực hoàn toàn ngược lại. Mạnh mẽ, quyết liệt, Bulgacov đã gửi một bức thư dài đến chính phủ Liên Xô: "Và tự tay tôi, tôi đã ném vào lò sưởi một tập bản thảo cuốn tiểu thuyết viết về quỷ sứ, một tập bản thảo hài kịch và phần đầu cuốn tiểu thuyết thứ hai của tôi - tiểu thuyết Sân khấu…Tôi xin lưu ý rằng, không được viết đối với tôi cũng có nghĩa là bị chôn sống… Nếu không được làm đạo diễn, tôi xin làm diễn viên đóng vai phụ. Nếu làm diễn viên phụ cũng không được, tôi xin làm công nhân sân khấu. Nếu cả điều đó cũng không thể được, tôi xin chính phủ Xô viết xử trí tôi như chính phủ thấy cần thiết…". Bức thư đã được gửi đi vào trước thời điểm mà Maiakovski đã dùng súng tự bắn vào đầu.
    Sự quyết liệt ấy đã thể hiện rất rõ trong tiểu thuyết, ở những đối thoại giữa giữa Lesua - Pilat. Iesua đã trả lời Pilat, nhắc lại những gì mà vì nó, nhà triết học phải bước lên đoạn đầu đài: "Tôi nói rằng ngôi đền của lòng tin cũ sẽ sụp đổ, và ngôi đền mới của chân lý sẽ được dựng lên… Bất kể thứ quyền lực nào cũng là bạo lực đối với con người, và sẽ đến một lúc sẽ không còn quyền lực của các hoàng đế lẫn bất kỳ thứ quyền lực nào khác. Con người sẽ đến được vương quốc của sự thật và công lý, nơi nói chung sẽ không cần một quyền lực nào cả…".
    Có lẽ sự quyết liệt ấy đã giúp cho "bản thảo không bị cháy", cho dù Nghệ Nhân, cho dù chính Bulgacov đã đốt nó".
    (Ngô Thị Kim Cúc - Đọc Nghệ Nhân và Margarita, tiểu thuyết của Mikhail Bulgakov, bản dịch của Đoàn Tử Huyến, giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 1991, giải thưởng Sách Hay 2011)"M.Bulgakov - Bản thảo không bị cháy
    Từng chương, từng trang sách, đều ẩn chứa trong đó những hàm ý triết học được "phổ" vào ngay cả những sự kiện xoàng xĩnh, khôi hài đến thảm hại của một hiện thực rã nát trong thế giới văn nhân. Và toàn thể tiểu thuyết là một tuyên ngôn nghệ thuật mà cho đến ngày nay các nhà nghiên cứu vẫn tiếp tục khám phá không ngưng nghỉ.
    Nghệ Nhân là nhà văn vừa hoàn thành tiểu thuyết, viết về hai nhân vật Lesua và Ponti Pilat: Một là nhà triết học lang thang và một là quan tổng trấn quyền uy. Lesua đã bị gài bẫy, bị bắt và bị hành hình vì những rao giảng của mình. Cái chết của Lesua đã trở thành nỗi ám ảnh kéo dài suốt hai nghìn năm, không để cho Ponti Pilat được yên, bởi quan tổng trấn đã không thể "cứu" được Lesua khỏi án chết, như ước muốn bí mật chỉ riêng ông biết.
    Số phận của Nghệ Nhân cũng không hề may mắn hơn: Tác phẩm của anh bị nguyền rủa và khai tử bởi các đồng nghiệp ngay từ lúc chưa công bố, dẫn đến việc anh bế tắc, tuyệt vọng, tự đốt bản thảo và tìm đến nhà thương điên, trốn chạy cả tình yêu định mệnh của Margarita…
    Chỉ có quỷ sứ mới cứu nổi nhà văn. Và quả thật quỷ sứ đã xuất hiện.
    Phần lớn số trang của tiểu thuyết đã dành để mô tả những gì mà chúa quỷ Voland và đoàn tùy tùng đã "quậy tưng" thành phố Moscow lên theo cách nào. Bằng những phép thuật được sử dụng như thuốc thử, Voland đã buộc giới văn nhân tự lộn trái mình ra, bộc lộ những phẩm chất tồi tệ: Bất tài, dối trá, ăn bám và hám lợi.
    Quả thật, Bulgacov với "Tài năng của nhà văn trào phúng, tài năng của nhà văn giả tưởng và tài năng của nhà văn hiện thực" đã nén đến tối đa những vấn nạn văn chương - tư tưởng, nhằm khẳng định khát vọng của nhà văn. Nó ở trong lời đáp của Voland khi Nghệ Nhân lên tiếng hỏi mình có nên chạy theo Ponti Pilat không: "Không, chạy theo dấu vết của cái đã kết thúc để làm gì?…Chẳng lẽ anh không muốn giống như Faust, ngồi bên chiếc bình cổ cong với niềm hy vọng mình sẽ tạo ra được một giống Homuncul mới?".
    Nếu Nghệ Nhân - nhà văn trong tiểu thuyết khá mềm yếu và thụ động thì Bulgacov - nhà văn ngoài đời thực hoàn toàn ngược lại. Mạnh mẽ, quyết liệt, Bulgacov đã gửi một bức thư dài đến chính phủ Liên Xô: "Và tự tay tôi, tôi đã ném vào lò sưởi một tập bản thảo cuốn tiểu thuyết viết về quỷ sứ, một tập bản thảo hài kịch và phần đầu cuốn tiểu thuyết thứ hai của tôi - tiểu thuyết Sân khấu…Tôi xin lưu ý rằng, không được viết đối với tôi cũng có nghĩa là bị chôn sống… Nếu không được làm đạo diễn, tôi xin làm diễn viên đóng vai phụ. Nếu làm diễn viên phụ cũng không được, tôi xin làm công nhân sân khấu. Nếu cả điều đó cũng không thể được, tôi xin chính phủ Xô viết xử trí tôi như chính phủ thấy cần thiết…". Bức thư đã được gửi đi vào trước thời điểm mà Maiakovski đã dùng súng tự bắn vào đầu.
    Sự quyết liệt ấy đã thể hiện rất rõ trong tiểu thuyết, ở những đối thoại giữa giữa Lesua - Pilat. Iesua đã trả lời Pilat, nhắc lại những gì mà vì nó, nhà triết học phải bước lên đoạn đầu đài: "Tôi nói rằng ngôi đền của lòng tin cũ sẽ sụp đổ, và ngôi đền mới của chân lý sẽ được dựng lên… Bất kể thứ quyền lực nào cũng là bạo lực đối với con người, và sẽ đến một lúc sẽ không còn quyền lực của các hoàng đế lẫn bất kỳ thứ quyền lực nào khác. Con người sẽ đến được vương quốc của sự thật và công lý, nơi nói chung sẽ không cần một quyền lực nào cả…".
    Có lẽ sự quyết liệt ấy đã giúp cho "bản thảo không bị cháy", cho dù Nghệ Nhân, cho dù chính Bulgacov đã đốt nó".
    (Ngô Thị Kim Cúc - Đọc Nghệ Nhân và Margarita, tiểu thuyết của Mikhail Bulgakov, bản dịch của Đoàn Tử Huyến, giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 1991, giải thưởng Sách Hay 2011)
Lên đầu trang Hỗ trợ